Tài chính xanh - Trách nhiệm với tương lai

NHVN 09:30 11/06/2026

Đến cuối năm 2025, vốn tín dụng xanh đạt khoảng 780 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 134% so với năm 2020. Con số này đánh dấu ngành ngân hàng đã chuyển mình thành động lực thúc đẩy kinh tế bền vững.

Hành trình định hình nền tảng phát triển bền vững

Nhìn lại chặng đường đã qua, ngành Ngân hàng luôn song hành cùng mọi thăng trầm của đất nước. Một trong những dấu mốc quan trọng đặt nền móng tư duy phát triển bền vững là Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Dù thời điểm đó khái niệm “ngân hàng xanh” còn chưa phổ biến, nhưng đây chính là bước khởi đầu cho việc lồng ghép tư duy phát triển bền vững vào các chính sách kinh tế, trong đó có lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

Bước sang thập niên 2010, khi khái niệm tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trở thành xu hướng toàn cầu, Việt Nam cũng chính thức đưa ra các chiến lược phát triển xanh ở tầm quốc gia. Trong tổng thể đó, ngành Ngân hàng được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhất. Bởi lẽ, quá trình chuyển đổi xanh đòi hỏi nhu cầu về nguồn lực là rất lớn và phải được huy động từ nhiều kênh khác nhau, bao gồm ngân sách nhà nước, khu vực tư nhân trong và ngoài nước. Trong đó, tín dụng ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam ở mức cao, cho thấy hệ thống ngân hàng là một kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế.

Tiếp nối, ngày 20/3/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 403/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014–2020. Trên cơ sở đó, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, qua đó định hướng kịp thời việc chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng phục vụ tăng trưởng xanh.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, ngành Ngân hàng đã tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh từ khá sớm. Song song với các quyết định của Chính phủ, từ năm 2015, NHNN đã ban hành chuỗi văn bản định hướng cốt lõi như Quyết định số 1604/QĐ-NHNN về Đề án phát triển ngân hàng xanh, nhằm xanh hóa hoạt động ngân hàng và hướng dòng vốn vào các dự án thân thiện với môi trường. Tầm nhìn này được nâng tầm tại Quyết định số 986/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2030, khẳng định mục tiêu tăng tỷ trọng vốn đầu tư vào năng lượng tái tạo và các ngành sản xuất ít carbon. Những quy định này, kết hợp cùng Chương trình hành động tại Quyết định số 34/QĐ-NHNN, đã hình thành nên hành lang pháp lý cao nhất, giúp các TCTD lồng ghép yếu tố bền vững vào mọi chương trình vay vốn, từ đó dẫn dắt nền kinh tế chuyển dịch theo hướng phát thải thấp.

Theo định hướng điều hành đó, dòng vốn tín dụng đang được “tái định vị” theo hướng ưu tiên cho các lĩnh vực có tác động tích cực đến môi trường như năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và các ngành kinh tế xanh. Cùng với đó, NHNN đã chủ động thiết kế và triển khai hàng loạt chương trình tín dụng mang tính dẫn dắt, nhằm định hướng dòng tiền chảy vào các lĩnh vực nông nghiệp bền vững như sản xuất sạch, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và mô hình kinh tế tuần hoàn. Các cơ chế hỗ trợ đi kèm từ ưu đãi lãi suất, linh hoạt tài sản bảo đảm đến các giải pháp chia sẻ rủi ro, đang góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn xanh.

Điển hình là chương trình tín dụng phục vụ phát triển 1 triệu ha lúa phát thải thấp tại ĐBSCL. Với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn khoảng 1% so với thông thường, chương trình không chỉ giúp giảm áp lực chi phí đầu vào như vật tư nông nghiệp và lao động, mà còn tạo động lực thúc đẩy mô hình canh tác thân thiện môi trường, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm phát thải khí nhà kính.

Trên nền tảng chính sách đã được thiết lập, nhiều NHTM đã chủ động triển khai các sản phẩm tín dụng xanh, từng bước hiện thực hóa dòng vốn vào các lĩnh vực phát triển bền vững.

Ở cấp độ từng ngân hàng, xu hướng chuyển dịch sang tín dụng xanh ngày càng rõ nét. HDBank đã triển khai gói tín dụng 10.000 tỷ đồng dành cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp sạch; Nam A Bank hợp tác với Quỹ hợp tác khí hậu toàn cầu (GCPF) triển khai các chương trình cho vay xanh với lãi suất ưu đãi khoảng 5 - 6%/năm. Nhiều ngân hàng cũng xây dựng các chính sách tín dụng trung và dài hạn cho các dự án giảm phát thải CO₂ hoặc tiết kiệm từ 20% năng lượng trở lên.

Đáng chú ý, từ năm 2018, BIDV đã dừng xem xét tài trợ các dự án nhiệt điện than và các dự án có tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời gia tăng tỷ trọng tín dụng đối với năng lượng tái tạo. Ngân hàng này cũng triển khai các chương trình hỗ trợ hộ gia đình đầu tư điện mặt trời áp mái thông qua hợp tác với SolarBK, với mức tài trợ lên tới 75% tổng vốn đầu tư, thời hạn từ 12 - 36 tháng.

Trên nền tảng đó, các chương trình hợp tác quốc tế tiếp tục được triển khai nhằm mở rộng nguồn lực cho tín dụng xanh. Có thể kể đến dự án chuyển hóa carbon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng do BIDV và ANZ thực hiện với nguồn vốn tài trợ từ Chính phủ Đan Mạch thông qua Chương trình hỗ trợ đầu tư xanh (GIF); các khoản vay phát triển năng lượng tái tạo tại Vietcombank, BIDV, VietinBank, SHB, HDBank từ nguồn vốn của Ngân hàng Thế giới (WB); hay chương trình nâng cao hiệu quả năng lượng trong công nghiệp do SHB triển khai với sự tham gia của nhiều TCTD từ Quỹ Khí hậu xanh của WB.

Bên cạnh đó, các sản phẩm tín dụng chuyên biệt như cho vay công trình xanh từ nguồn vốn của IFC tại VPBank, hay cho vay lại các dự án năng lượng tái tạo từ nguồn vốn của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thông qua Vietcombank cũng đang được triển khai, góp phần đa dạng hóa các kênh cung ứng vốn xanh trên thị trường.

Song song với việc định hướng dòng vốn, ngành Ngân hàng cũng từng bước hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động tín dụng. Nếu như giai đoạn đầu chủ yếu mang tính khuyến khích, thì sau khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 có hiệu lực, các quy định này đã được luật hóa, yêu cầu 100% TCTD phải xây dựng quy trình nội bộ để kiểm soát rủi ro đối với các dự án có tác động tiêu cực đến môi trường, qua đó tiệm cận dần với các chuẩn mực quốc tế. Cùng với đó, NHNN cũng đẩy mạnh hợp tác quốc tế, huy động hỗ trợ kỹ thuật, triển khai các chương trình đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho hệ thống ngân hàng trong lĩnh vực tài chính xanh.

Sau gần 10 năm triển khai định hướng tín dụng xanh, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nếu năm 2017 mới chỉ có khoảng 15 TCTD tham gia cho vay xanh, với dư nợ khoảng 180 nghìn tỷ đồng, thì đến cuối năm 2025 con số này đã tăng lên 78, với quy mô tín dụng xanh đạt gần 780 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Mặc dù tỷ trọng chưa lớn, nhưng tốc độ tăng trưởng khá tích cực khi năm 2024 tăng 9,5% và năm 2025 tăng 14,62%. Tính chung, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân khoảng 22-23% mỗi năm, tập trung vào các lĩnh vực như nông nghiệp xanh (khoảng 33%), năng lượng tái tạo (22%), công trình xanh và giao thông vận tải xanh.

Ở góc độ chính sách, bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết, ngành Ngân hàng không áp dụng hạn mức riêng cho tín dụng xanh, mà luôn xác định đây là một trong những động lực tăng trưởng mới và ưu tiên bố trí nguồn lực phù hợp. Trong thời gian qua, các TCTD chủ yếu sử dụng chính nguồn lực của mình để giảm lãi suất, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi xanh, trong khi chưa có nhiều hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Hiện NHNN đang hoàn thiện khung pháp lý để triển khai chính sách này, trên cơ sở các danh mục phân loại xanh và tiêu chuẩn ESG được ban hành đầy đủ. “Có thể thấy, với sự vào cuộc đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn triển khai, tín dụng ngân hàng đang ngày càng khẳng định vai trò là một trong những nguồn lực then chốt, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của nền kinh tế”, bà Tùng khẳng định.

Tài chính xanh - Trách nhiệm với tương lai

Kiến tạo tương lai xanh

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đang đặt ra những áp lực ngày càng rõ nét đối với mô hình tăng trưởng hiện nay. PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường nhận định, áp lực lớn đầu tiên đến từ sự cạn kiệt “vốn tự nhiên”. Các báo cáo quốc tế về dấu chân sinh thái cho thấy, nền kinh tế Việt Nam hiện đang thâm hụt khoảng 220% năng lực hệ sinh thái, đồng nghĩa với việc mức độ khai thác tài nguyên đã vượt xa khả năng tái tạo của môi trường.

Bên cạnh đó, các rào cản thương mại xanh đang nổi lên như một “luật chơi mới” trong thương mại toàn cầu. Những cơ chế như điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), quy định chống phá rừng hay các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu lớn đang tạo áp lực trực tiếp đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Những yêu cầu này còn mang yếu tố bảo hộ thương mại, buộc các quốc gia xuất khẩu phải thích ứng nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu các rào cản xanh phản ánh xu hướng tái cấu trúc thương mại trong dài hạn, thì những biến động địa chính trị lại đang tạo ra các cú sốc tức thời, làm gia tăng áp lực lên quá trình chuyển đổi của nền kinh tế. Ông Nguyễn Xuân Hải, Quyền Tổng biên tập Thời báo Ngân hàng cho rằng, những tháng đầu năm 2026, xung đột tại Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, đẩy giá nhiên liệu tăng cao và tạo ra sức ép lớn lên tăng trưởng cũng như lạm phát toàn cầu. Theo ông, giá dầu leo thang không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất, mà còn đặt ra bài toán kiểm soát lạm phát đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Diễn biến này một lần nữa cho thấy tính cấp thiết của việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên, đặc biệt là năng lượng hóa thạch. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm giảm áp lực chi phí, mà còn là điều kiện để nền kinh tế duy trì tăng trưởng bền vững trong bối cảnh tài nguyên ngày càng suy giảm.

Nhận diện rõ thách thức này, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó khẳng định bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng là nền tảng quan trọng cho phát triển đất nước và là một bộ phận của an ninh quốc gia. Theo ông Nguyễn Xuân Hải, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi tư duy phát triển, chuyển sang mô hình sản xuất - kinh doanh tiết kiệm năng lượng, tối ưu chi phí và từng bước chuyển đổi xanh.

Do đó, chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện dài hạn, mà đã trở thành yêu cầu cấp bách, đồng thời mở ra cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững cho doanh nghiệp. Trong tiến trình đó, ngành Ngân hàng tiếp tục đóng vai trò then chốt với tư cách là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế.

Tại Văn kiện Đại hội XIV, định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030 đã xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.

Ở góc độ dài hạn, PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, Kịch bản Chuyển đổi xanh (hay Kịch bản Phấn đấu-Striving Scenario) đang mở ra một hướng đi mới khi tái thiết lập mối quan hệ giữa tự nhiên và nền kinh tế thông qua việc thực thi nghiêm ngặt, phối hợp và hiệu quả các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phân loại tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn và đa dạng sinh học.

Các mô hình phân tích cho thấy, kịch bản này không chỉ mang lại lợi ích môi trường, mà còn tạo ra hiệu quả kinh tế vượt trội trong dài hạn. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân theo đó sẽ lớn hơn 10,0% (thậm chí đạt mức 10,5%) mỗi năm trong giai đoạn bản lề 2026-2030, hoàn toàn đáp ứng được khát vọng phát triển 2 con số được đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XIV. Sau đó, tốc độ này sẽ ổn định ở mức khả năng phục hồi cao từ 7,0-8,1% mỗi năm trong suốt giai đoạn 2031 đến 2050.

Hướng tới kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần Đại hội XIV, việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, trong đó hoàn thiện thể chế và phát triển hệ sinh thái tài chính xanh giữ vai trò then chốt. Tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính bền vững không chỉ là kênh huy động vốn, mà còn là công cụ định hướng lại dòng chảy đầu tư trong nền kinh tế.

Trong tiến trình đó, hệ thống ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm điều phối và dẫn dắt. Việc lồng ghép các tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị vào hoạt động cấp tín dụng sẽ trở thành chuẩn mực tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và thúc đẩy phát triển bền vững.

Theo TS. Phạm Phan Dũng, chuyên gia kinh tế năng lượng (Bộ Công Thương) để dòng vốn xanh phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. NHTM không thể đơn phương gánh vác vai trò hỗ trợ, đặc biệt là trong việc giảm lãi suất cho các dự án xanh. Việc hỗ trợ lãi suất cần đến từ ngân sách nhà nước, cùng với các cơ chế tài chính phù hợp.

Một trong những đề xuất được đưa ra là xây dựng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, huy động nguồn vốn từ ngân sách và các tổ chức quốc tế, sau đó ủy thác qua hệ thống ngân hàng để giải ngân. Cách tiếp cận này vừa tận dụng được năng lực của ngân hàng, vừa giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp.

Những giải pháp này được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn chính sách, tạo ra xung lực mạnh mẽ để ngành Ngân hàng không chỉ là "mạch máu", mà còn là "trái tim" dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam tiến vào kỷ nguyên xanh bền vững, đúng như kỳ vọng của Đảng và nhân dân tại Đại hội XIV. Trong dòng chảy 75 năm, vai trò của ngân hàng không còn dừng lại ở việc dẫn vốn, mà đang chuyển hóa thành năng lực dẫn dắt tương lai - nơi mỗi quyết định tín dụng hôm nay sẽ góp phần định hình cấu trúc phát triển của nền kinh tế ngày mai.

Theo Thời Báo Ngân hàng

Bạn đang đọc bài viết Tài chính xanh - Trách nhiệm với tương lai tại chuyên mục Điều hành. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0989 285 285 - 0989 285 285 Hoặc email: [email protected]
Tin cùng chuyên mục Điều hành