Nhà đầu tư cá nhân vẫn chiếm tỷ trọng lớn
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với mục tiêu hai con số, đồng thời thị trường chứng khoán chính thức được nâng hạng theo chuẩn FTSE Russell, yêu cầu phát triển thị trường vốn theo chiều sâu trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong đó, trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Vai trò này càng rõ nét khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã vượt 140%, đặt ra yêu cầu hệ thống ngân hàng phải chuyển sang tăng trưởng có chọn lọc thay vì mở rộng ồ ạt.
Tuy vậy, thực tế cho thấy, cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện nay vẫn tiềm ẩn rủi ro hệ thống, khi nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong phân khúc phát hành riêng lẻ - vốn được thiết kế dành cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp, có năng lực phân tích và khả năng chịu đựng rủi ro cao.
Ông Bùi Ngọc Huyên, Phó Trưởng ban Quản lý Chào bán Chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, để khắc phục bất cập này, Luật Chứng khoán sửa đổi năm 2024 đã bổ sung các quy định theo hướng siết chặt kỷ luật thị trường và tăng cường bảo vệ nhà đầu tư. Theo đó, nhà đầu tư cá nhân - dù đáp ứng tiêu chí nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chỉ được tham gia mua và chuyển nhượng trái phiếu riêng lẻ khi trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm, kèm theo tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán.
Quy định này không nhằm hạn chế sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân, mà hướng tới việc tái định vị dòng vốn vào các sản phẩm phù hợp hơn, như trái phiếu phát hành ra công chúng hoặc các quỹ đầu tư chuyên nghiệp - nơi rủi ro được quản lý bài bản hơn. Qua đó, góp phần giảm thiểu nguy cơ lan truyền rủi ro và củng cố nền tảng ổn định cho thị trường.
Song song với việc kiểm soát khu vực nhà đầu tư cá nhân, chính sách mới cũng mở ra dư địa lớn hơn cho các nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài - hai nhóm hiện vẫn còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trên thị trường. Cụ thể, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài hiện vẫn dưới 1%, trong khi nhà đầu tư tổ chức trong nước cũng chỉ chiếm dưới 30%, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn trong việc đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư và nâng cao chất lượng dòng vốn trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Ngành hạ tầng - cơ hội trên thị trường vốn cho nhà đầu tư tổ chức
Theo ông Nguyễn Bá Hùng, chuyên gia kinh tế quốc gia cấp cao của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), việc mở rộng cơ hội cho các định chế tài chính sẽ khó đạt hiệu quả nếu thị trường thiếu vắng các sản phẩm đầu tư có chất lượng và quy mô tương xứng. Trong bối cảnh đó, vai trò của hạ tầng trong việc trở thành lớp tài sản “neo” quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư.
Ông Hùng cho rằng, để đạt mục tiêu đầu tư hạ tầng ở mức 8 - 10% GDP trong giai đoạn tới, Việt Nam cần bổ sung 10 - 20 tỷ USD mỗi năm. Áp lực này sẽ dồn đáng kể lên hệ thống ngân hàng nếu thiếu các kênh huy động vốn đa dạng. Trong khi đó, dư địa ngân sách nhà nước còn hạn chế so với nhu cầu vốn rất lớn. Do vậy, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đứng trước cơ hội thể hiện vai trò rõ nét hơn, không chỉ là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, mà còn góp phần hình thành lớp tài sản nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn.
Ở góc độ đầu tư, tài sản hạ tầng được xem là lựa chọn phù hợp với nhà đầu tư tổ chức nhờ đặc tính dòng tiền dài hạn, ổn định và có thể dự báo, qua đó giúp dễ dàng cân đối kỳ hạn tài sản - nguồn vốn, nhất là đối với các định chế tài chính như bảo hiểm hay quỹ hưu trí.
Tuy vậy, hạ tầng là tài sản đặc thù với đặc điểm tài chính điển hình là chi phí đầu tư tập trung lớn ở giai đoạn đầu, trong khi nguồn thu thấp và chỉ ổn định sau khi dự án đi vào vận hành hiệu quả. Với vòng đời kéo dài từ 15 - 40 năm, cùng cấu trúc rủi ro phân bổ qua nhiều giai đoạn, các dự án hạ tầng đòi hỏi những sản phẩm tài chính được thiết kế linh hoạt và đa dạng hơn.
Điều này đặt ra yêu cầu phát triển các công cụ tài chính vừa phù hợp với thị trường trái phiếu doanh nghiệp truyền thống - vốn dựa trên năng lực tài chính của doanh nghiệp phát hành, vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn của các nhà đầu tư tổ chức, đặc biệt là các quỹ có dòng tiền ổn định và yêu cầu cao về xếp hạng tín nhiệm.
Trước thực tế này, chuyên gia ADB đề xuất phát triển mô hình Quỹ đầu tư hạ tầng nhằm đa dạng hóa nguồn vốn và chia sẻ rủi ro. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quỹ tín thác hạ tầng không chỉ giảm áp lực cho ngân hàng mà còn tạo thêm sản phẩm đầu tư dài hạn cho thị trường, và giúp huy động hiệu quả vốn cho các dự án lớn.
Một trong những mô hình đáng chú ý, theo ông Hùng là Quỹ tín thác đầu tư hạ tầng (InvITs), đặc biệt tại Ấn Độ. Mô hình này cho phép chuyển dòng tiền từ các tài sản đã vận hành thành đơn vị đầu tư, qua đó thu hút vốn thị trường và giúp nhà phát triển thu hồi vốn để tái đầu tư. Đến nay, Ấn Độ đã có 12 quỹ InvIT với tổng vốn hóa gần 20 tỷ USD.
Bên cạnh đó, mô hình nền tảng chứng khoán hóa tại Singapore cũng cho thấy hiệu quả trong việc huy động vốn. Thông qua việc mua lại các khoản nợ hạ tầng và dự án đã vận hành, sau đó phát hành chứng khoán với xếp hạng tín nhiệm cao - nhờ cơ chế bảo lãnh tổn thất ban đầu - chi phí vốn đã được giảm đáng kể, với tổng giá trị phát hành tích lũy vượt 2 tỷ USD.
Chuyên gia của ADB cho rằng, Việt Nam có thể xem xét thí điểm một số mô hình đầu tư mới nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn trung và dài hạn, qua đó giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trọng tâm là phát triển các công cụ nợ có dòng tiền ổn định và đáng tin cậy. Song song, việc tận dụng cơ hội xây dựng danh mục trái phiếu xanh và phát hành các sản phẩm trái phiếu có cấu trúc sẽ giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng về kỳ hạn và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư tổ chức có quy mô lớn, thời hạn đầu tư dài và nhu cầu dòng tiền ổn định từ sản phẩm có xếp hạng tín nhiệm phù hợp.
Các yếu tố hỗ trợ như xếp hạng tín nhiệm và cơ chế tăng cường tín dụng có vai trò quan trọng để phát huy hiệu quả của hoạt động này, do đó cần được thúc đẩy nhằm nâng cao chất lượng phát hành. Trong ngắn hạn, đây cũng là biện pháp có thể giúp giảm áp lực tăng tín dụng mới lên hệ thống ngân hàng thông qua việc giải phóng dư nợ trong các dự án đã hoàn thành đang vận hành tốt.
Theo Báo Đại biểu Nhân dân






